Friday, September 26, 2008

Thành phần hàm khung

Sự hiểu biết về thành phần của hàm khung (HK) sẽ giúp cho chúng ta thiết kế một HK chính xác và có hiệu quả.

Nối lớn có dạng hình bản rộng cho hàm trên và hình thanh cho hàm dưới . Nối lớn có công dụng nối các thành phần của HK lại với nhau và đồng thời cũng có tác dụng nâng đỡ cho hàm giả thí dụ như bản nối lớn khẩu cái nhờ diện rộng nên tạo một sự nâng đỡ đáng kể cho hàm giả.

Nối nhỏ là phần đi từ nối lớn đến các mấu tựa hoặc tay móc.

Mấu tựa có tác dụng cung cấp sự nâng đỡ cho hàm giả và phân phối lực nhai lên các răng trụ. Mấu tựa có thể ở mặt nhai của răng cối hoặc ở cingulum răng cửa.

Tay giữ trực tiếp (direct retainer)hay còn gọi là móc hoặc mắc cài (attachment), tay móc nằm dưới vùng lẹm của răng trụ để tạo sức bám giữ cho hàm giả.

Tay giữ gián tiếp (indirect retainer) là mấu tựa lên cingulum của các răng phía trước để chống xoay cho hàm giả khi hàm giả xoay quanh trục nối liền hai tựa mặt nhai. Tay giữ gián tiếp góp phần vào sự vững ổn cho hàm giả khi bệnh nhân nhai các thức ăn dính hoặc hàm giả bị xoay dưới tác dụng của trọng lực.

Bản tiếp giáp (proximal plate) là phiến kim loại tiếp xúc với mặt bên của răng trụ, nó giúp cho hàm giả không bị xoay quanh trục thẳng đứng và hướng dẩn sự lắp đặt hàm giả.

Lưới bám cho nền nhựa nên có đủ độ vững chắc để nền hàm không bị gảy khi nhai, mắt lưới nên đủ rộng để dễ ép nhựa. Lưới cũng là chổ bám cho răng giả.

Hình 1: Hàm khung hàm trên
Hình 2: Hàm khung hàm dưới

Độ lẹm của răng trụ:

Trong trường hợp răng trụ không có độ lẹm để tạo sự bám giữ cho móc, chúng ta có thể dùng mũi khoan kim cương hình cầu cỡ số 6 hoặc hình bầu dục để mài lõm mặt ngoài của răng trụ nơi tương ứng với đầu móc. Chổ lõm sau khi mài cần được đánh bóng để tránh sâu răng. Nếu bệnh nhân sợ bị mài răng thi bạn có thể dùnh một phương pháp khác đó là đắp thêm composite để tạo vùng lẹm. Cả hai cách trên đều hiệu quả như nhau sau khi đầu móc được điều chỉnh.

Bề bản rộng của nối lớn hàm trên có thể làm cho bệnh nhân khó chịu, bạn có thể chọn loại nối lớn hình móng ngựa hoặc hình thanh. Tuy nhiên các loại nối lớn có bề bản hẹp thường không tạo ra sự nâng đỡ tốt cho hàm khung và hậu quả là sự tiêu ngót sóng hàm sẽ nhanh hơn. Sự chọn lựa loại nối lớn tùy thuộc vào sự cân nhắc về lâm sàng và kinh nghiệm sử dụng hàm giả của bệnh nhân.

Trong trường hợp HK không có răng trụ nâng đỡ phía trong ( distal extension) dưới tác dụng của lực nhai, nền hàm giả sẽ bị lún xuống và toàn bộ hàm giả sẽ xoay quanh trục nối hai răng trụ tận cùng. Trong những trường hợp này nên sử dụng các loại móc ngắt lực ( stress release) để tránh các lực xoắn có hại cho răng trụ. Một trong những loại móc ngắt lực là loại móc RPI, đầu móc hình chữ I sẽ di chuyển tới trước và không ép lên răng trụ khi hàm giả bị xoay.

Loại móc đôi có sức bám cao nhưng không có lợi về mặt sinh cơ học vì khi hàm giả chuyển động nó sẽ có tác dụng như một mỏ kềm làm lung lay các răng trụ. Ngoài ra móc đôi không thẩm mỹ vì nó là loại móc đi từ mặt nhai vòng ra phía ngoài nên để lộ nhiều kim loại khi bệnh nhân cười.

BS Việt Minh Chánh

Wednesday, September 24, 2008

Các phương pháp tẩy trắng răng

Tẩy trắng răng từ bên ngoài (răng sống): đặt thuốc lên răng có hoặc không chiếu đèn (tẩy trắng tại phòng nha), đặt thuốc trong khay mang trên răng (tẩy trắng tại nhà), ...

Tẩy trắng răng từ bên trong (Răng được điều trị tủy): đặt thuốc Tẩy trắng răng trong buồng tủy.

1. Tẩy trắng răng nội nha:

Là phương pháp đặc biệt chỉ sử dụng riêng cho răng đã chết tủy.

Các răng đã chết tủy sau một thời gian sẽ dần dần sậm màu do các chất phát sinh trong các quá trình tủy hoại tử hoặc trong điều trị tủy xâm nhập ống ngà răng và làm thay đổi màu răng.

Quy trình điều trị:

Răng phải được chụp phim X-quang kiểm tra kết quả điều trị tủy trước đây, nếu chưa điều trị tủy tốt thì nên điều trị nội nha lại.

Mở lối vào buồng tủy răng, đặt một lớp trám bảo vệ dày 1,5-2mm lên bên trên phần chất trám bít ống tủy, sau đó đặt thuốc tẩy trắng răng vào trong buồng tủy và trám tạm lại.

Thuốc tẩy trắng răng sẽ được thay mỗi 1-2 tuần cho đến khi răng trắng.

Trám lại lỗ mở vào buồng tủy khi kết thúc điều trị.

2. Tẩy trắng răng sống tại ghế nồng độ cao kết hợp chiếu đèn:

Là hình thức tẩy trắng răng với thuốc tẩy trắng răng nồng độ cao và có thể kết hợp với các nguồn năng lượng (đèn tẩy trắng răng).

Đầu tiên Bác sĩ sẽ đặt một lớp chất bảo vệ lên nướu, sau đó đặt thuốc tẩy trắng răng peroxide nồng độ cao lên mặt răng.

Thuốc tẩy trắng răng sẽ được hoạt hóa bằng cách chiếu các loại nguồn năng lượng được gọi là đèn tẩy trắng răng.

Hiện nay trên thế giới có các loại năng lượng đèn tẩy trắng răng sau:

HALOGEN

PLASMA

LASER-LED

LASER

Các loại đèn khác nhau ở mức năng lượng thấp-cao, độ xuyên thấu của các loại tia, thời gian chiếu đèn, nhiệt độ.

Thời gian điều trị cho một lần tẩy trắng tại ghế nha trung bình 30 phút - 90 phút, tùy hệ thống tẩy trắng răng, loại thuốc, đèn sử dụng.

Tẩy trắng răng được hoạt hóa bằng đèn có thể làm răng trắng hơn 3-8 cấp độ màu tùy trường hợp.

3. Tẩy trắng răng sống tại ghế nồng độ cao không kết hợp chiếu đèn:

Các quy trình tẩy trắng răng tương tự tẩy trắng răng tại ghế có chiếu đèn nhưng không dùng sự kích hoạt của các nguồn năng lượng.

Một số loại thuốc tẩy trắng răng có khả năng tự thẩm thấu vào răng mà không cần đến tác động hỗ trợ của đèn.

4. Tẩy trắng răng tại nhà có các dạng sau:

Kem đánh răng làm trắng răng

Băng tẩy trắng dán lên răng

Thuốc tẩy trắng răng bôi lên răng

Hệ thống tẩy trắng với thuốc tẩy trắng răng và khay tẩy trắng răng bán sẵn

Hệ thống tẩy trắng với thuốc tẩy trắng răng và khay tẩy trắng răng thiết kế riêng cho từng cá nhân

A. Kem đánh răng làm trắng răng:

Kem đánh răng chủ yếu loại bỏ nhiễm màu ở bề mặt răng bằng tác động mài mòn nhẹ bởi các hạt nhỏ làm bóng răng và một ít hóa chất trong kem. Kem đánh răng không có tác động làm thay đổi màu răng trắng hơn màu vốn có mà thường chỉ là loại bỏ lớp màu dính trên răng.

Các sản phẩm tẩy trắng răng khác nếu có chứa hydrogen peroxide mới có tác dụng làm sạch nhiễm màu bề mặt đồng thời loại bỏ nhiễm màu lớp sâu và làm trắng răng.

Các sản phẩm kem đánh trắng răng được bày bán trên thị trường không phải có hiệu quả trong mọi trường hợp. Thường kem đánh răng chỉ làm răng sáng lên khoảng một cấp độ trong khi các sản phẩm tẩy trắng răng được hoạt hóa bằng đèn có thể làm răng trắng hơn 3-8 cấp độ màu.

B. Thuốc tẩy trắng răng bôi lên răng - Băng tẩy trắng dán lên răng:

Thuốc tẩy trắng răng được đặt trên bề mặt răng bằng bàn chải đầu nhỏ hoặc dán lên răng như một băng dính.

Bạn sẽ tự thực hiện ở nhà mỗi ngày khoảng 30 phút và liên tục kéo dài 14 ngày.

Kết quả sơ khởi có thể nhìn thấy được sau vài ngày và có thể duy trì 3-4 tháng.

Giá thành thấp hơn.

Thuốc tẩy trắng răng dạng này có nồng độ thấp hơn dạng được sử dụng trong Nha khoa.

Mặc dù các răng có thể trắng hơn nhưng mức độ trắng không đạt được nhiều, và sự duy trì màu cũng kém hơn. Ngoài ra cũng cần lưu ý một số trường hợp có đáp ứng kém hoặc không đáp ứng với thuốc tẩy trắng răng và có thể gây kích thích nướu. Các trường hợp này nên đến phòng Nha để Bác Sĩ tư vấn giải pháp tốt nhất cho bạn.

C. Hệ thống tẩy trắng với thuốc tẩy trắng răng và khay tẩy trắng răng bán sẵn:

Khay tẩy trắng răng được bán sẵn cùng với thuốc tẩy trắng răng peroxide.

Đây là loại khay như một tấm nhựa bao bọc quanh răng bên trong có chứa sẵn thuốc tẩy trắng răng, loại khay này có thể dùng cho tất cả mọi người.

Hoặc có loại bạn phải ngâm tấm nhựa vào nước nóng và áp tấm nhựa sát lên răng để tự thực hiện khay cho bản thân mình, sau đó đặt thuốc vào khay và mang trên răng mỗi ngày 2-4 giờ hoặc mang suốt đêm trong khoảng 4 tuần hoặc hơn tùy trường hợp.

Khay tẩy trắng răng dạng này không khít sát vào răng, khay hở và rộng đem lại cám giác không thoải mái khi mang thuốc.

Các hiện tượng ê buốt răng và kích thích nướu có thể xảy ra trong một số trường hợp.

Tẩy trắng răng dạng này có thể cho kết quả tương đối tốt đối với các nhiễm màu nhẹ- trung bình.

Các nhiễm màu nặng hơn cần đến khám và tư vấn tại phòng Nha để có được phương pháp tẩy trắng răng phù hợp và hiệu quả hơn.

D. Hệ thống tẩy trắng tại nhà với thuốc tẩy trắng răng và khay tẩy trắng răng thiết kế riêng cho từng cá nhân:

Đầu tiên bạn sẽ được lấy dấu và dấu gửi vào labo làm khay tẩy trắng răng cá nhân riêng cho mỗi người dựa trên dấu đã lấy. Khay tẩy trắng răng được thiết kế riêng cho từng cá nhân luôn tạo sự dễ chịu và thoải mái tối đa khi mang khay.

Thuốc tẩy trắng răng là peroxide với nhiều nồng độ khác nhau.

Tẩy trắng răng với khay mang tại nhà:

Bạn mang khay trên răng mỗi ngày 2-4 giờ hoặc mang suốt đêm trong khoảng 4 tuần hoặc hơn tùy trường hợp.

Quy trình tẩy trắng răng với khay tại phòng Nha được thực hiện gần giống như tẩy trắng răng tại chỗ: một loại chất bảo vệ được đặt trên nướu, sau đó đặt khay có thuốc vào miệng và có thể kết hợp chiếu các loại đèn tẩy trắng răng (Halogen, Plasma, Laser-LED, Laser).

Phương pháp này cho kết quả rất tốt đối với các răng nhiễm màu vàng , nâu nhẹ và trung bình khi mang khay tại nhà trong 2-8 tuần.

Màu răng sẽ ổn định từ 2 tuần sau tẩy trắng và duy trì 6-12 tháng hoặc lâu hơn 2-3 năm tùy trường hợp.

Mức độ nhiễm màu lại cũng tùy trường hợp cụ thể.

Tác dụng phụ:

Nhạy cảm răng (ê buốt): thường là thoáng qua trong thời gian mang thuốc và sẽ kết thúc khi ngưng điều trị.

Bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn giảm thời gian mang thuốc khi xuất hiện nhạy cảm và uống hoặc bôi các thuốc chống ê buốt.

Kích thích nướu: Bác sĩ có thể điều chỉnh lại khay cho phù hợp và hướng dẫn cách đặt thuốc đúng vị trí.

Lưu ý:


Kỹ thuật tẩy trắng răng tại chỗ và tại nhà có thể sử dụng riêng biệt hay kết hợp tùy trường hợp theo chỉ định của nha sĩ và điều kiện thời gian, kinh tế, cũng như mong muốn của bệnh nhân.

Các trường hợp nhiễm màu Tetracycline điều trị tương đối khó khăn: răng đáp ứng thuốc tương đối chậm, kết quả có thể bị hạn chế. Tuy nhiên, nếu kiên trì điều trị dưới sự kiểm soát của Bác sĩ (có thể kết hợp với tẩy trắng tại chỗ nồng độ cao có chiếu đèn) thực hiện mang khay liên tục tại nhà 3-6 tháng có thể cho kết quả tốt.

Khi tẩy trắng răng trong thời gian dài nên có sự kiểm soát của Bác sĩ sẽ an toàn và hiệu quả hơn.

(Nguồn www.nhakhoa2000.net)

Tẩy trắng răng bị nhiễm màu

1. Nguyên nhân răng bị nhiễm màu :

Sự nhiễm sắc răng từ bên trong trước hoặc sau khi mọc răng: do sự thành lập cấu trúc răng không hoàn chỉnh, bệnh của men, ngà, do 1 số loại thuốc uống đường toàn thân (tetracycline, fluor,...) tác động vào sự hình thành màu răng trong quá trình thành lập răng, hoặc những viêm nhiễm trong tủy răng đi theo hệ thống men ngà làm thay đổi màu răng hiện có, đổi màu răng do tuổi tác, sâu răng, chấn thương răng...

Sự nhiễm sắc răng từ bên ngoài do thực phẩm, nước uống, thuốc lá, mảng bám răng,... Những trường hợp răng nhiễm màu ngoại sinh thường có mức độ đáp ứng điều trị tốt hơn, nhanh hơn nhiễm màu nội sinh. Tẩy trắng răng là một giải pháp tốt và an toàn cho những răng nhiễm màu vừa và nhẹ.

2. Tẩy trắng răng


Sự nhiễm sắc răng từ bên trong do thuốc tetracycline hoặc từ bên ngoài do thực phẩm, nước uống, thuốc lá làm răng bị sẫm màu gây mất thẩm mỹ.

Tẩy trắng răng là loại hình điều trị nhằm mục đích cải thiện màu răng bằng các loại hóa chất làm trắng răng, có thể kết hợp thêm với các nguồn năng lượng bổ sung giúp hoạt hóa thuốc (đèn HALOGEN, PLASMA, LASER/LED).

Cùng với tốc độ phát triển của xã hội, nhu cầu làm đẹp của con người cũng ngày càng gia tăng nhanh chóng.

Ngày càng có nhiều người, nữ giới và cả nam giới, ở nhiều lứa tuổi, quan tâm, chăm chút và mong muốn cải thiện hình thức bên ngoài của bản thân nhằm phục vụ cho giao tiếp xã hội, trong đó một nụ cười đẹp là một trong những thành phần quan trọng không thể không kể đến. Một hàm răng trắng sáng luôn là điểm nổi bật khi đánh giá một nụ cười.

Do vậy nhu cầu làm trắng răng hiện nay là một mong muốn chính đáng của con người trong xã hội hiện đại.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng hàm răng giả

Hàm giả mới luôn cần một thời gian thích nghi : bệnh nhân phải tập làm quen với vị trí các răng và nướu mới, khi mới mang hàm sẽ có cảm giác hơi vướng, nói ngọng, tăng tiết nước bọt,...Sau vài giờ bệnh nhân sẽ từ từ nói chuyện bình thường, sau vài ngày hoặc vài tuần ăn uống sẽ quen dần, nên bắt đầu với các loại thức ăn mềm, nếu khi ăn nhai có cộm nên đến Nha sĩ để chỉnh cộm.

Hàm giả sẽ tồn tại rất lâu nếu được bảo quản tốt, hàm giả bị rớt, va chạm mạnh có thể bị biến dạng. Hàm giả tháo lắp cần được tháo ra và chải rửa sạch sẽ mỗi ngày với kem đánh răng hoặc dung dịch chải rửa chuyên dùng. Không nên dùng các loại dung dịch rửa, kem đánh răng có chất mài mòn, bàn chải cứng,...

Khi không mang hàm nên ngâm hàm trong nước thường hoặc các dung dịch ngâm hàm sát khuẩn, không nên sát khuẩn bằng cách ngâm hàm trong nước quá nóng sẽ làm biến dạng hàm.

Hàm giả nên được tháo ra ban đêm để cho các mô nướu thư giãn không bị đè ép, tạo điềi kiện tốt cho hệ thống tự chải rứa của lưỡi và nước bọt.

Ngay cả khi mang hàm giả, xương hàm vẫn sẽ tiếp tục thay đổi theo thời gian, do đó sau một thời gian mang hàm có thể sẽ lỏng và cần đệm hàm. Do vậy, bạn nên đến Nha sĩ định kỳ để kiểm tra các răng nướu thật, kiểm tra hàm giả và sửa chửa nếu cần.

Tai biến mọc răng khôn

Tác giả: ThS. Đặng Thị Thu Hồng

Răng khôn là răng cối lớn thứ ba trong cung hàm. Răng bắt đầu mọc lên trong độ tuổi từ 18 đến 25. Do mọc sau cùng nên răng khôn, đặc biệt là răng khôn hàm dưới, thường bị thiếu chỗ làm răng mọc lệch lạc không đúng vị trí, răng bị kẹt không thể mọc lên hoàn toàn hoặc ngầm trong xương hàm.
CÁC TAI BIẾN DO MỌC RĂNG KHÔN

Nếu răng khôn không thể mọc ngay ngắn, đúng vị trí, răng có thể đưa đến một số các tai biến như:
  1. Răng ngầm hay răng lệch có thể làm cho răng cối lớn thứ hai ở ngay phía trước nó bị sâu (do nhồi nhét thức ăn ở kẻ giữa hai răng này) hay bị tiêu chân răng.
  2. Bệnh nha chu có thể phát triển ở răng khôn làm cho mô nâng đỡ răng ( nướu và xương ổ răng) bị tổn thương.
  3. Viêm quanh thân răng. Đây là tai biến thường gặp nhất ở những răng khôn mọc kẹt, bị nướu che phủ 1 phần thân răng. Khi bị viêm, nướu chung quanh thân răng sưng đỏ, vùng má dưới cũng sưng phồng lên, bệnh nhân cảm thấy đau nhiều, nhai khó, nuốt khó, há miệng khó, có khi cứng hàm hoàn toàn. Bệnh nhân có thể có những triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi.
    Hình 1:
    Viêm quanh thân răng
    ở một răng bị kẹt
    Hình 2:
    Phim tia X của một răng
    khôn mọc kẹt
    Hình 3:
    Túi mủ được hình thành
    ở má dưới
  4. Răng khôn mọc ngầm có thể đưa đến sự hình thành và phát triển nang thân răng ngầm. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, nang sẽ phát triển ngày càng lớn và phá hủy xương ngày càng nhiều. Tuy nhiên, bệnh cũng ít khi xảy ra.
    Hình 4: Nang thân răng
  5. Ngoài ra, theo một số tác giả, răng khôn mọc ngầm hay mọc lệch có thể đẩy các răng khác ra phía trước, làm cho các răng này bị xô lệch và mọc chen chúc nhau.
ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị các tai biến do răng khôn được thực hiện theo nhiều cách:
  • Chỉ sử dụng kháng sinh
  • Cắt lợi trùm để giúp răng mọc lên dễ dàng.
  • Nhổ răng
Sau khi khám lâm sàng và nghiên cứu phim X-Quang; Bác sĩ sẽ cân nhắc và chọn lựa phương pháp điều trị tùy theo: vị trí mọc răng ( răng mọc ngay ngắn hay lệch lạc), răng có đủ chỗ hay không đủ chỗ mọc, tuổi của bệnh nhân và sự phát triển của bệnh.

KẾT LUẬN.

Một răng khôn mọc lên hoàn chỉnh và đúng vị trí sẽ giúp cho việc ăn nhai tốt hơn, xương phát triển cũng tốt hơn. Trong một số trường hợp, răng khôn được dùng để cấy chuyển vào vị trí của một chiếc răng cối lớn khác đã mất.

Tuy nhiên, nếu không giữ răng lại được ( do răng không đủ chỗ mọc, lệch lạc) thì việc nhổ bỏ nên được thực hiện sớm vì mức độ khó khăn của phẫu thuật cũng như các biến chứng sau phẫu thuật sẽ càng ít nếu tuổi của bệnh nhân càng trẻ./

Những phiền toái từ việc mọc răng khôn

Khi những chiếc răng đầu tiên mọc cũng là lúc trẻ em phải chịu đựng những biểu hiện như sốt, biếng ăn. Đến tuổi thay răng sữa sang răng vĩnh viễn, trẻ em cũng phải trải qua những khó chịu lúc nhổ răng. Và khi những chiếc “răng khôn” xuất hiện chúng vẫn tiếp tục gây ra những khó chịu, đặc biệt là răng khôn hàm dưới. Vậy vì sao răng khôn hàm dưới lại gây ra những phiền toái này và có cách nào để thích nghi dễ dàng hơn với chúng?

Bạn gặp rắc rối nào khi mọc răng khôn hàm dưới?

Các mầm răng khôn xuất hiện lúc khoảng 5 tuổi. Lớp men răng được tạo thành bắt đầu từ lúc 8 tuổi cho đến 12 - 16 tuổi. Những răng này còn được gọi là răng hàm thứ 3 vì chúng xuất hiện sau răng hàm thứ 2 vào khoảng năm 12 tuổi, bắt đầu mọc nhú lên lúc 16 tuổi, tiếp tục mọc cho đến khi 21 tuổi. Một chiếc răng khôn có hình dạng cuối cùng, có rễ hẳn hoi ít nhất là khi đã đến tuổi 25. Nếu không nó sẽ tiếp tục mọc cho đến khi nào có thể đạt đến hình dạng cuối cùng.

Trong 80 - 90% các trường hợp, những răng khôn hàm dưới chính là nguồn gốc nảy sinh ra những khó chịu khi mọc. Hàm răng trên có hình chữ nhật và hàm răng dưới hình chữ L nằm ngang. Phần nằm ngang của chữ L gọi là nhành ngang và phần thẳng đứng gọi là nhành dọc. Tất cả những vấn đề khi mọc răng khôn là do thiếu chỗ ở hàm trên hay hàm dưới. Sự tiến hóa của loài người qua thời gian đã làm cho hàm răng nhỏ bớt đi. Các khó chịu thường gặp ở răng khôn hàm dưới do thiếu chỗ, chúng sẽ mọc xiên lệch, thậm chí mọc ngang và đâm cả vào răng hàm thứ 2. Còn răng khôn hàm trên thì không mắc phải hoàn cảnh như vậy, tuy nhiên cũng có những biến chứng xảy ra như nhiễm khuẩn nếu chúng mọc xiên lệch.

Hình 1: Răng khôn hàm dưới mọc lệch

Các vấn đề nảy sinh khi mọc răng khôn hàm dưới thường là:

Viêm túi vành bao quanh răng làm người bệnh cảm thấy đau đớn, khó mở miệng, khó nói, lợi sưng lên và khi hai hàm răng chạm vào nhau sẽ làm cho đau dữ dội. Người bệnh cũng có thể bị sốt. Nếu sốt cao và đau nhiều, bệnh nhân phải đi khám tại các phòng khám nha khoa.

Viêm lợi, biểu hiện là lợi rất đỏ, nhất là vị trí răng mọc lên, người bệnh rất đau khi đánh răng.

Viêm họng cũng thường xảy ra khi răng khôn mọc.

Viêm tấy và có áp xe: Những trường hợp răng khôn hàm dưới mọc xiên lệch đâm vào răng bên cạnh, đâm vào má và sưng tấy nhiều vùng lợi nơi mọc lên rất có thể sẽ làm sưng tấy các vị trí trong miệng quanh răng khôn và có thể hình thành áp xe nếu không có các biện pháp xử trí.

Cũng rất may là phần lớn các răng khôn hàm dưới có xảy ra những đau đớn khó chịu nhưng không phải quá mức chịu đựng nên sau một thời gian, mỗi người đều thích nghi với những chiếc răng mới và thực sự có một hàm răng hoàn chỉnh, kể cả khi chúng ta đã 30 tuổi. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp do răng khôn gây ra quá nhiều đau đớn thì cần phải đến bác sĩ nha khoa xem có nên nhổ đi hay không. Đi kèm với việc nhổ răng khôn này là những di chứng có thể xảy ra, người bệnh cần biết để phòng ngừa và cần được bác sĩ giúp đỡ.

Những di chứng sau khi nhổ răng khôn

Xuất huyết: Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc xuất huyết sau nhổ răng khôn là người bệnh súc miệng quá sớm sau khi nhổ răng. Vì thế sau khi nhổ răng khôn không nên súc miệng ngay tức thì mà phải chờ ít nhất là 1 giờ sau mới súc miệng vì đây là thời gian cho tiểu cầu tập trung thành những cục máu đông, bịt kín lại vết thương tại các mạch máu. Độ sâu của vết nhổ răng khôn chừng 1 - 2cm, một răng hàm trên có 3 rễ bám vào hàm, răng hàm dưới là 2 rễ, vì thế 2 hay 3 vết thương sâu 1cm là một vết thương lớn trong vòm miệng.

Đau đớn: Trong mọi lần sau nhổ răng đều làm người bệnh cảm thấy đau nhưng sau nhổ răng khôn thì đau hơn gấp bội. Vùng hàm mặt tập trung rất nhiều dây thần kinh nên đau là phản ứng bình thường của cơ thể, tình trạng đau sẽ giảm dần khi vết thương dần lành lặn.

Viêm ổ răng: Đây là biến chứng rất dễ xảy ra sau khi nhổ răng và hiện nay người ta vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính xác gây bệnh. Nếu tình trạng viêm xảy ra nên đi khám và được chỉ định dùng kháng sinh đến khi khỏi hẳn, thông thường bệnh chỉ kéo dài 1 tuần.

Khó mở miệng: Sau khi nhổ răng khôn người bệnh cảm thấy khó mở miệng. Đó là phản xạ bảo vệ vết thương và không đáng lo ngại, chỉ sau một thời gian ngắn sẽ hết.

Tóm lại: Những rắc rối sau khi mọc răng răng khôn hàm dưới là điều mà mọi người hầu như ai cũng phải trải qua, tuy nhiên nếu xuất hiện những đau đớn quá nhiều thì cần phải nhổ để tránh những tai biến, sau nhổ răng cũng có những di chứng cần phải chú ý.

Nguồn: Báo Sức khỏe & Đời sống

Xử trí vỡ múi Răng cối nhỏ - R5

Tóm tắt bệnh án :

Bệnh nhân cắn phải một hạt sạn, làm vỡ múi trong R25, vát xuống dưới nướu khoảng 3 mm. Mô răng còn lại cứng chắc, khớp cắn tốt. Bệnh nhân tha thiết muốn giữ lại. Chụp phim thấy chân răng còn tốt.

Xử trí :

Trước hết ,nếu bạn đã lấy miếng răng vỡ thì nên Endo và trám lại ( trám vát tạo hình như răng 3 ,chưa nên tái tạo múi trong vội),chỗ gãy dưới nướu sau khi lành thương có thể có tái bám dính (theo dõi sau 3 tháng ).

Trám kết thúc bằng composite để tránh trường hợp răng bị nhiểm đen ra mặt ngoài nếu sử dụng amalgam ,sau đó mài chỉnh lại rồi chờ lành thương xong sẽ tính tiếp.

Case lành thương sau 3 tháng.

Nếu gãy quá sâu ,hoặc sau 3 tháng vẫn còn có túi sâu nên phẫu thuật cắt nướu .Khi đã lành thương có thể để nguyên hoặc tái tạo cùi theo phương pháp sau ( hoặc có thể đúc cùi giả theo hình dạng tương tự.



Đây là một trong những cách tái tạo răng cối nhỏ đã endo vỡ múi trong bằng amlgam theo đề nghị của các tác giả Rivera & Walton , khi răng bị vỡ , đặt khuôn trám hoặc band , trám lại bằng amlgam rồi mài cùi ( chỉ áp dụng khi định bọc sứ ví dụ như ở răng cối nhỏ hàm dưới ) còn ở răng cối nhỏ hàm trên chỉ cần trám mặt trong bằng composite là đủ ,chổ có dấu hỏi ở hình sau cùng là tái bám dính có thể có hoặc không .

Nếu định làm cùi giả cũng thực hiện cùi theo hình dạng tương tự nhưng nên khoan sâu hơn ...dĩ nhiên đây chỉ là một gợi ý và cũng còn nhiều cách tái tạo khác ví dụ như đặt chốt sợi rồi trám composite ...